Tùng Bá là vùng đất có lịch sử lâu đời. Qua nghiên cứu các tư liệu thành văn cho thấy, địa danh Tùng Bá xuất hiện khá sớm .
Thời kỳ phong kiến (thời nhà Nguyễn), đến đầu thế kỷ XIX, Tuyên Quang (gồm có địa bàn tỉnh Hà Giang ngày nay) là một trấn trực thuộc Bắc thành, có 1 phủ là phủ Yên Bình, gồm 5 châu: Yên Phúc, Lục Yên, Thu Vật, Vị Xuyên, Bảo Lạc. Các châu này được chia thành 38 tổng, 256 xã, phố. Trong đó, xã Tùng Bá là 1 trong 6 xã thuộc tổng Phương Độ, châu Vị Xuyên, phủ Yên Bình.
Đến năm 1831, Minh Mệnh cải cách hành chính, Tuyên Quang trở thành một tỉnh dưới quyền kiểm soát của Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên. Năm Minh Mệnh thứ 16 (1835), lập thêm phủ Yên Ninh trên cơ sở tách ra từ phủ Yên Bình. Năm Thiệu Trị thứ 2 (1842) đổi gọi phủ Yên Ninh thành phủ Tương Yên.
Nửa cuối thế kỷ XIX, tỉnh Tuyên Quang gồm 2 phủ: Phủ Yên Bình và phủ Tương Yên. Trong đó, phủ Tương Yên gồm 4 huyện: Để Định, Vĩnh Điện, Vị Xuyên, Chiêm Hóa. Trong đó, xã Tùng Bá lúc này thuộc tổng Yên Định, huyện Vị Xuyên, phủ Tương Yên.
Thời kỳ Pháp thuộc, đến cuối năm 1929, Đạo quan binh 3 (tỉnh Hà Giang ngày nay) có 4 đơn vị hành chính là: Châu Vị Xuyên, châu Bắc Quang, châu Hoàng Su Phì và châu Đồng Văn. Châu Vị Xuyên có 4 tổng là: Phương Độ, Yên Định, Phú Linh, Yên Phú. Lúc này, xã Tùng Bá thuộc tổng Yên Định, châu Vị Xuyên; gồm các thôn bản là: Yên Thượng (Khuôn Làng, Lùng Cảnh, Khuôn Phà); Phúc Hạ (Nà Giáo, Nặm Rịa, Khôn Bẩu, Khâu Cọ).
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thực hiện Quyết định số 433/QĐ-HCI, ngày 16/9/1949 của Ủy ban hành chính Liên khu 10 về thành lập các xã thuộc huyện Vị Xuyên. Huyện Vị Xuyên gồm 30 xã, trong đó có xã Tùng Bá.
Qua nhiều lần thay đổi, đến năm 2020 xã Tùng Bá đã có 15 thôn gồm: Khuôn Làng, Khuôn Phà, Tát Kà, Nà Thé, Phúc Hạ, Nà Giáo, Hồng Minh, Bản Kiếng, Nà Lòa, Hồng Tiến, Bản Mào, Bản Đén, Nà Vàn, Nặm Rịa, Nà Phầy.
Trước đây dân số trên địa bàn xã sinh sống thưa thớt, dân tộc Tày, Dao, Mông là những dân tộc sinh sống lâu đời trên địa bàn xã. Trải qua quá trình sinh sống, phát triển, là vùng đất có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp, đất đai màu mỡ, nguồn nước dồi dào, đồng bào dân tộc Kinh đã đến cư trú, sinh sống tại đây. Đến năm 2020, toàn xã có 4 dân tộc anh em chung sống với tổng số 1.562 hộ/7.369 khẩu, cụ thể: Dân tộc Tày 6.366 khẩu (chiếm chủ yếu 86%), dân tộc Dao 828 khẩu (11,2%), dân tộc Mông 129 khẩu (1,75%), dân tộc Kinh 46 khẩu (0,62%).
Đời sống văn hóa của nhân dân các dân tộc xã Tùng Bá hết sức phong phú, vừa mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống của mỗi dân tộc, vừa có sự giao thoa. Hiện nay, đồng bào các dân tộc trên địa bàn xã vẫn lưu giữ được những câu chuyện cổ tích, những bài cọi, hát then, bài cúng tổ tiên, bài cúng thần linh, bài cúng trong tiết thanh minh; những bài đối đáp có tính giáo dục sâu sắc, tế nhị trong lễ cưới, đặc biệt là bài cúng Lễ hội xuống đồng của đồng bào Tày; Lễ cấp sắc của đồng bào Dao... Nhân dân các dân tộc trên địa bàn xã còn lưu giữ truyền thống văn hóa từ tháng 10 âm lịch đến tháng giêng năm sau là thời gian tổ chức các lễ, tục cưới xin, cầu thọ, giúp nhau làm nhà... Hàng năm, vào dịp đầu xuân năm mới, đồng bào thường tổ chức các hoạt động văn hóa dân gian như: Tung còn, đánh yến...
Dưới bàn tay khéo léo của người dân nơi đây, văn hóa ẩm thực của đồng bào cũng có nhiều nét đặc sắc; nhiều món ăn đặc sản được chế biến như: Bánh bột nếp với nhân đậu xanh, đậu đen; bánh chuối; cơm lam bằng ống nứa; bánh trưng; bánh dày; xôi 7 màu.
Về sinh hoạt, đối với đồng bào dân tộc Tày chủ yếu sinh sống ở khu vực đồi núi thấp, ven theo suối và sườn núi, sinh sống tập trung ở các thôn: Khuôn Phà, Nà Lòa, Bản Mào, Nặm Rịa, Tát Kà. Đồng bào Tày thường làm nhà sàn truyền thống có 4 mái lợp bằng tranh hay lá cọ, bưng ván gỗ, tre, nứa. Đồng bào dân tộc Dao trên địa bàn xã có hai nhóm: Dao đỏ và Dao quần đen; về cấu trúc nhà ở có ba loại nhà: Nhà sàn, nhà đất và nhà nửa sàn nửa đất; nhà ở bằng gỗ, tre, nứa rất chắc chắn, đơn giản. Về trang phục, dân tộc Dao thường sử dụng trang phục với chất liệu bằng vải bông nhuộm chàm, màu xanh, đỏ, đen, tím than hoặc để trắng... Các dân tộc trong xã đều có tín ngưỡng chung là thờ cúng tổ tiên thể hiện tinh thần hướng về cội nguồn, được thực hiện trang nghiêm và lưu truyền từ đời này qua đời khác; con cháu khi đến tuổi trưởng thành đều được dựng vợ, gả chồng; gia đình có người mất được tổ chức làm đám ma, gia đình có điều kiện thì sau khi chôn cất vài năm sau tiếp tục làm ma (còn gọi là làm ma khô). Ngày nay, được sự quan tâm, đầu tư mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước cùng sự cố gắng của nhân dân làm cho đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân các dân tộc không ngừng được nâng cao, các lễ hội truyền thống của các dân tộc đã từng bước được khôi phục. Việc giữ gìn, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc được chú trọng; việc đưa văn hóa truyền thống vào trường học cho thế hệ trẻ được tích cực triển khai.
Nhân dân các dân tộc xã Tùng Bá vốn có truyền thống lao động cần cù, chịu khó, cùng với đó do điều kiện tự nhiên, nguồn nước, đất đai, khí hậu có nhiều thuận lợi nên việc phát triển kinh tế nông nghiệp, trong đó nghề trồng lúa nước là nghề sản xuất lâu đời của người dân nơi đây. Ngoài ra, đồng bào còn trồng ngô, hoa màu, các loại cây ăn quả... Nhân dân xã cũng đã sớm chú trọng phát triển chăn nuôi với nhiều loại gia súc, gia cầm để phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày.
Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta. Năm 1887, chúng căn bản hoàn thành việc chiếm đóng đến Hà Giang và áp đặt hệ thống cai trị hà khắc. Tại xã Tùng Bá, chúng sử dụng bộ máy tay sai làm công cụ. Do đó, đời sống của người dân xã Tùng Bá vốn đã cùng cực dưới chế độ phong kiến lạc hậu, hà khắc nay lại phải sống dưới chế độ thực dân phong kiến ngày càng trở nên khó khăn hơn.
Để kìm hãm sự phát triển, ngăn chặn tinh thần đấu tranh chống áp bức bóc lột của nhân dân, thực dân Pháp và tay sai thi hành chính sách thâm độc, khuyến khích người dân chơi cờ bạc, rượu chè, hút thuốc phiện, mê tín dị đoan, cúng bái để chữa bệnh.
Tháng 4/1890, sau khi điều chỉnh phạm vi quản lý trên địa bàn tỉnh, thực dân Pháp xác lập chế độ quân quản. Trước hết chúng tiếp tục duy trì và củng cố đội ngũ tay sai ở cấp cơ sở như: Lý trưởng, Phó lý, Hội đồng kỳ mục ở vùng đồng bào dân tộc Tày; đối với khu vực người Dao cư trú chúng lập thành động và cử người Dao làm quản động. Chúng tiếp tay cho bọn cầm quyền ra sức bắt phu, bắt lính, thu thuế. Hàng năm, nhân dân Tùng Bá phải bỏ công việc đồng ruộng để đi phu, đi lính, xây dựng đồn bốt và các công việc khác không công, phục vụ cho bộ máy cai trị của chúng (tự lo cơm, gạo, thực phẩm, công cụ... đi làm), những người dân muốn tránh khỏi nạn đi phu, bắt lính thì phải chạy tiền đút lót cho Lý trưởng, Phó lý trong xã. Để thực hiện các chính sách đã đề ra, chúng thành lập đội lính dõng phục vụ mưu đồ của mình.
Thực dân Pháp còn thi hành chính sách thuế hết sức vô lý. Chúng tự đặt ra các loại thuế khác nhau để thu thuế người dân như: Thuế thân, thuế điền, thuế gia ốc (thuế nhà ở), thuế nuôi quân, thuế nuôi ngựa, thuế rượu, thuế đò, thuế chợ... Các thuế này chúng thu bằng đồng bạc già, trong đó thuế đinh có 2 mức là 5 đồng và 7 đồng/năm;
thuế điền thu theo bó mạ, cứ cấy 100 bó mạ thì thu 10 đồng bạc già. Ngoài ra, chúng còn thi hành chế độ phu phen, tạp dịch làm cho đời sống nhân dân vô cùng khổ cực. Không ít gia đình phải bán cả ngựa, trâu để nộp thuế. Người dân xã Tùng Bá dù có cần cù, chịu khó trong lao động sản xuất nhưng quanh năm vẫn không đủ ăn, phải ăn khoai, ăn sắn, lên rừng đào củ mài, củ đao để sống qua ngày đoạn tháng. Thời kỳ này, toàn xã có tới 2/3 số hộ thiếu ăn từ 6 - 7 tháng; số ít còn lại cũng phải thiếu ăn từ 2 - 3 tháng.
Thâm độc hơn chúng còn sử dụng chính sách “ngu dân”, nạn mù chữ xảy ra đối với 99% người dân trên toàn địa bàn xã. Chúng khuyến khích người dân hút thuốc phiện, uống rượu, đánh bạc; cổ động các hủ tục. Khi bị ốm đau chỉ dựa vào cúng bái là chính. Dịch bệnh xảy ra thường xuyên như: Sốt rét, đậu mùa, thương hàn, sởi... không có thuốc điều trị, chỉ một số người dân đã biết dùng cây rừng làm thuốc nên không tránh khỏi những tổn thất thương tâm. Chúng dựng lên câu chuyện hoang đường rằng người này, dân tộc này có ma gà; người kia, dân tộc kia có ma cà rồng; gieo rắc tư tưởng phân biệt dòng họ, phân biệt giàu nghèo để gây hận thù mất đoàn kết dân tộc, mất đoàn kết giữa các dòng họ phục vụ cho âm mưu cai trị của chúng.
Dưới ách thống trị của thực dân Pháp và tay sai, đời sống nhân dân Tùng Bá hết sức khó khăn. Lòng căm thù đối với thực dân Pháp ngày càng cao. Mặc dù bị kìm hãm mọi mặt về đời sống dưới chế độ thực dân phong kiến, nhưng với truyền thống kiên cường, bất khuất, không cam chịu áp bức, bóc lột, nhân dân trong xã đã đứng lên đấu tranh, tiến hành một số vụ kiện đòi quyền lợi chính đáng nhưng đều thất bại, thậm chí bị đánh đập, đàn áp dã man.
Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 02/9/1945, tại Ba Đình - Thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Hòa chung với nhân dân các địa phương trên phạm vi huyện, tỉnh và cả nước, nhân dân xã Tùng Bá vui mừng được thoát khỏi cảnh nô lệ, làm chủ vận mệnh của mình, làm chủ đất nước.
Trải qua các thời kỳ lịch sử, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Chi, Đảng bộ xã, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân trong xã từng bước được nâng cao. Hiện nay, trong thời kỳ thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang, mà trực tiếp là sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, nhân dân các dân tộc xã Tùng Bá đã và đang vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, thách thức, khai thác và tận dụng mọi tiềm năng, thế mạnh để phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện mục tiêu hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và xóa đói, giảm nghèo theo phương châm “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; quyết tâm phấn đấu xây dựng xã Tùng Bá trở thành một xã vững mạnh về chính trị và an ninh - quốc phòng, giàu về kinh tế, văn minh về văn hóa - xã hội.
Ban Biên tập trích từ cuốn "Truyền thống cách mạng của Đảng bộ và Nhân dân xã Tùng Bá (1945 - 2020)"